Kinh nghiệm đầu tư

Kiến thức tài chính thế giới qua sách “Why i left Goldman Sachs”

April 21, 2018
Why-i-left-Goldman-Sachs

Nội dung cuốn sách là những trải nghiệm thức tế của vị giám đốc điều hành Greg Smith của Goldman Sachs. Ông kể lại lý do ông rời Goldman Sachs sau hơn 10 năm làm việc. Xuyên suốt câu chuyện là cả một kho tàng kiến thức về tài chính, về phố Wall. Các thuật ngữ tiêu biểu trong ngành tài chính như Quỹ phòng hộ, Chứng khoán phái sinh, Hợp đồng tương lai được tác giả giải thích rất rõ ràng và dễ hiểu. Ngoài ra, tác giả cũng diễn giải thật chi tiết nguyên do dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính 2008 và những cách khắc phục được chính phủ đưa ra. Có thể nói đây là cuốn sách gói gọn khá đầy đủ kiến thức về tài chính cũng như mô hình hoạt động của ngân hàng đầu tư và các loại quỹ trên thế giới.

Goldman Sachs là ngân hàng đầu tư ở New York, hoạt động giống như quỹ phòng hộ. Khách hàng của Goldman Sachs thường không phải cá nhân, hầu hết là những nhà quản lý tài sản lớn, quỹ hưu trí, chính phủ và các quỹ phòng hộ trên thế giới. Họ tham gia vào rất nhiều danh mục đầu tư mà Goldman Sachs thích từ rất sớm, họ thường đầu tư dài hạn và là nguồn lực chính bảo đảm cho sự bền vững của danh mục đó. Qui trình làm việc của Goldman Sachs giống công ty bảo hiểm, họ trả tiền hoa hồng và tiền thưởng cho nhân viên bán hàng. Họ cũng có leader và cấp quản lý.

Why-i-left-Goldman-Sachs
Why-i-left-Goldman-Sachs

Quỹ phòng hộ (Hedge funds) là các quỹ đầu tư có thể thực hiện những chiến lược qui mô, cả dài hạn (đầu tư vào tài sản với tiềm năng tăng giá trong tương lai) và ngắn hạn (bán tài sản mà không cần sở hữu, dự đoán nó sẽ giảm giá trong tương lai). Loại quỹ này không bị ràng buộc quá chặt chẽ về pháp lý. Đối tượng khách hàng thường là những nhà đầu tư lớn như quỹ hưu trí, trường đại học và những nhà đầu tư giàu có.

Goldman Sachs giao dịch các loại chứng khoán phái sinh và thực hiện các hợp đồng tương lai.

Chứng khoán phái sinh (Derivatives) là chứng khoán được định giá từ tài sản gốc. Là loại chứng khoán phức tạp và có rủi ro cao. Nhưng nếu hiểu đúng, chứng khoán phái sinh có thể giúp các nhà đầu tư phòng chống rủi ro. Thuật ngữ chứng khoán phái sinh bao gồm: quyền chọn, hoán đổi và hợp đồng tương lai, và bạn có thể nhận chứng khoán phái sinh qua tất cả các loại tài sản: vốn chủ sở hữu, ngoại hối, hàng hóa, thu nhập cố định.

Chứng khoán phái sinh là loại sản phẩm có đòn bẩy cao: bạn đang vay tiền để đặt cược, vì vậy tiền lãi hoặc lỗ được tính theo cấp số nhân. Nếu bạn “Mua” nhầm hay “Bán” nhầm đều sẽ dẫn đến khoản lỗ nặng.

Hợp đồng tương lai (Future contract) là hợp đồng phái sinh giữa người mua và người bán với giá và số lượng được thỏa thuận tại ngày ký, nhưng giao hàng và thanh toán trong tương lai. Thuật ngữ này bắt nguồn từ nhu cầu bảo vệ cây trồng khỏi hạn hán, mưa bão của người nông dân.

Hàng trăm năm trước, để bảo vệ cây trồng khỏi hạn hán, mưa bão, nông dân sẽ thực hiện một giao dịch với người mua. Thay vì phải chịu rủi ro cây trồng có giá 100$, 200$ hoặc chỉ 20$ khi bán, họ sẽ chốt giá 120$ trong hợp đồng giao hàng ở tương lai. Họ chấp nhận giảm lợi nhuận nếu giá tăng trong tương lai, nhưng sẽ tránh được rủi ro không bán được cây trồng. Loại hợp đồng này gọi là Hợp Đồng Tương Lai.

Hợp đồng tương lai bắt nguồn từ lúa mì, sữa, nước cam, thịt heo; Vàng, bạc, quặng sắt. Sau đó mọi người nghĩ đến áp dụng hình thức này vào những thứ khác, ví dụ như cổ phiếu ”. Từ đó có chỉ số chứng khoán: Dự đoán giá chứng khoán trong tương lai. Ngoài ra còn có lãi suất tương lai và ngoại hối tương lai.

50% nghiệp vụ của Goldman Sachs là chỉ số chứng khoán tương lai như hợp đồng S & P 500 hoặc NASDAQ. 50% còn lại là hàng hóa tương lai như ngũ cốc, nước cam và thịt heo, còn lại là tiền tệ và lãi suất (Forex): mọi người đặt cược vào giá trái phiếu chính phủ trong tương lai, hoặc đồng đô la, đồng yên hoặc euro .

Điều gì gây ra khủng hoảng tài chính 2008?

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 thực sự bắt đầu từ mùa hè năm 2007, khi mô hình giao dịch bằng máy tính gọi là “Black Box” sụp đổ. “Black Box” được phát triển từ đối tác của Goldman – Global Alpha.

“Black Box” được thiết kế để phát hiện những mã chứng khoán xấu, mô hình này đã cho ra những kết quả ấn tượng vào năm 1997, khi phong trào bong bóng dot-com đang bùng nổi. Từ 2002-2005, mô hình Black Box liên tục hái ra tiền.

Khuyến điểm của mô hình giao dịch này là không tính đến yếu tố khách quan, không có tư duy của con người. Quá nhiều quỹ sử dụng cùng một mô hình, và không ai lường trước hậu quả khi mọi người cùng bán hoặc cùng mua một cổ phiếu.

Tháng 8 năm 2007, các mô hình giao dịch bằng máy tính bắt đầu sụp đổ: Mọi người cùng lúc cập nhật cùng một chứng khoán, và khi giá xuống quá thấp, các quỹ bắt đầu mất tiền. Đồng thời, các nhà đầu tư trong các quỹ này cũng hoảng loạn và đồng loạt đòi rút tiền.

Sau khi mô hình Black Box” sụp đổ, nhiều ngân hàng đã đưa ra những giải pháp như Bear Stearns and funding trade, nhưng đều không thành công.

Tháng 10/2008, để giải cứu tài chính thế giới, chính phủ Mỹ đã quyết định cho 9 ngân hàng lớn nhất (bao gồm cả Goldman) rất nhiều tiền, có tên gọi là “too big to fail” (quá lớn để thất bại). Mục đích là để rót vốn cho ngân hàng thực sự cần vốn, nếu chỉ một ngân hàng nhận tiền, mọi người sẽ cho rằng ngân hàng này đang bị khủng hoảng. Nhưng thị trường vẫn không khởi sắc.

Trong cuộc khủng hoảng, Greg Smith nghĩ ra một ý tưởng gọi là Dry Powder (bột khô), khi tất cả các quỹ đều bán tháo, sẽ dôi ra lượng tiền khổng lồ (Dry Powder), lượng tiền này quá lớn và sẽ quay trở lại thị trường để tìm kiếm lợi nhuận. Ông đưa ra một nền tảng để kiểm tra khi hiện tượng Dry Powder xuất hiện, và dự đoán xu hướng phát triển của thị trường.

Mọi người đều lo sợ và hy vọng thị trường sẽ phục hồi, do đó, dự án Dry Powder của ông nhanh chóng được khách hàng đón nhận. Trong thế giới chúng ta đang sống, nội dung là cách chúng ta tạo ra sự khác biệt.

4 loại khách hàng trên phố Wall

Có 4 loại khách hàng trên phố Wall: Khôn ngoan, gian xảo, đơn giản và ngây thơ.

Khách hàng KHÔN NGOAN

Quỹ phòng hộ thuộc loại khách hàng khôn ngoan. Họ khai thác triệt để mọi tài nguyên từ ngân hàng, bao gồm nghiên cứu, cộng tác với đội ngũ quản lý các cty họ định đầu tư. Có tầm nhìn về xu hướng của thị trường; khả năng định giá những sản phầm có giá trị; Họ có mô hình định giá công bằng. Cuối cùng và quan trọng nhất: Quỹ phòng hộ (giống OTM Capital) sở hữu những bộ óc cực kì thông minh và nhạy bén.

Goldman Sachs thích những khách hàng giống như quỹ phòng hộ, vì họ thường đầu tư vào rất nhiều danh mục của Goldman Sachs, ngoài ra, loại quỹ này còn là bạn đồng hành lý tưởng của Goldman Sachs cho những dự án đầu tư dài hạn. Quỹ phòng hộ có công cụ phát hiện khi nhà giao dịch (trader) chơi gian lận.

Khách hàng GIẢN XẢO

Chiêu thức quen thuộc của những quỹ đầu tư Gian xảo là tung tin đồn thất thiệt về những công ty mà họ nhắm đến nhằm kéo giá xuống thấp. Họ sử dụng mọi mánh khoé để lừa đảo trên phố Wall nhằm mục đích trục lợi cho bản thân mình.

Khách hàng ĐƠN GIẢN
Đối tượng khách hàng này thường là quỹ hưu trí (pension funds). Họ thường phản ứng chậm chạp trước các cơ hội và không có khả năng phân tích thị trường, thường đầu tư theo cảm tính và là miếng mồi ngon trên phố Wall.

Khách hàng NGÂY THƠ

Đây là đối tượng khách hàng không chỉ có đầu óc đơn giản mà còn dễ tin người. Họ thường là người quản lý lương hưu của cảnh sát, nhân viên cứu hoả, giáo viên, hoặc điều hành tổ chức từ thiện nào đó. Loại khách hàng này thường là miếng mồi ngon của tụi cá mập phố Wall.

Goldman Sachs bị phạt

Vào năm 2010, SEC (Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch) đã phạt Goldman vì nhầm lẫn và bỏ qua các điều khoản trong các văn bản bị tiết lộ của dịch vụ CDO tổng hợp (Nghĩa vụ nợ được thế chấp). Goldman đồng ý nộp phạt 550 triệu đô la. 300 triệu đô la cho chính phủ và 250 triệu đô la cho các nhà đầu tư. Sau khi sự cố trên, nhiều khách hàng không yên tâm khi giao dịch với Goldman. Họ chuyển sáng giao dịch các sản phẩm trong danh mục, có tính minh bạch cao tại clearing house (cơ quan thanh toán bù trừ), tiền của họ sẽ được an toàn dù ngân hàng họ đang giao dịch có tồn tại hay không.

Cơ quan thanh toán bù trừ là đại diện cho bên thứ ba hoặc một tổ chức độc lập, đóng vai trò như một người trung gian giữa người mua và người bán trong thị trường tài chính. Cơ quan thanh toán bù trừ có trách nhiệm thanh toán các tài khoản giao dịch của thành viên, cân bằng tài khoản ký quỹ và thu tiền.

Chính sách tính thưởng mới của Goldman

Từ năm 2005, Goldman thay đổi chính sách tính tiền thưởng bằng cách khuyến khích nhân viên tối đa nguồn vốn đầu tư dưới tên họ. Mọi người sẽ làm bất cứ điều gì có thể để gia tăng con số theo tên mình. Họ đã bán danh mục đầu tư kém (Axe) cho khách hàng.

Axe là một vị trí hoặc rủi ro mà công ty muốn thoát ra, công ty khuyên khách hàng làm ngược lại, sau đó công ty thực hiện giao dịch có lợi cho mình. Hình thức này giống như khi bạn có quá nhiều bánh rán trong kho và cần bán đi trước khi hết hạn sử dụng. Để thúc đẩy doanh số bán hàng, bạn sẽ quảng cáo: “Bánh rán của chúng tôi không có chất béo!” Hiển nhiên đó là lời nói dối, nhưng bạn sẽ không phải bị tù vì việc này.

Mặt tối của Phố Wall

Phố Wall luôn tạo điều kiện giao dịch thuận lợi cho các quỹ phòng hộ thông minh nhất, quỹ tương hỗ, quỹ hưu trí, quỹ đầu tư có chủ quyền, và các tập đoàn trên thế giới, họ biết rõ mọi bên của các giao dịch và nắm rõ các nhà đầu tư trong lòng bàn tay. Do đó, họ luôn là người chiến thắng. Phố Wall ghét sự minh bạch và luôn đấu tranh để ngăn không cho điều đó xảy ra.

========
Về tác giả
Greg Smith đã từ chức vào mùa xuân năm 2012, ông là giám đốc điều hành Chứng khoán Phái sinh Mỹ của Goldman Sachs tại Châu Âu, Trung Đông và Châu Phi từ năm 2012. Sinh ra và lớn lên ở Nam Phi, ông tốt nghiệp Đại học Stanford trước khi đi làm việc toàn thời gian. vào năm 2001. Ông đã trải qua 10 năm đầu tiên ở trụ sở New York trước khi chuyển đến London vào năm 2011. Hiện ông đang sống ở New York.

Review of the book “Why i left Goldman Sachs”